Chủ Nhật, ngày 15 tháng 7 năm 2012

ĐỜI THỨ 11

Đời thứ mười một

Thuận Trung Hầu
NGUYỄN CẢNH VIỆT
(XI-A)

          Ngài là con trai trưởng của Hội Triều Hầu Nguyễn Cảnh Lĩnh.
Ngài sinh năm Quý dậu, Niên hiệu Chính Hòa (1693).
Mẹ của Ngài là bà nguyễn Thị Liễu quê ở xã Liên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An ngày nay.
Ngài sinh ra tướng mạo khôi ngô, tính tình ngay thẳng, thường trọng nghĩa khinh tài và rất thông minh. Lúc còn nhỏ, ngài đã nghĩ rằng các vị tiền nhân trước đây tu nhân tích đức, nên con cháu mới được hưởng hồng phúc đời đời, sao ta lại không nối gót tiền nhân mà lại bo bo lập nghiệp ở quê nhà. Vì vậy, Ngài chăm chỉ học hành và đã thi đỗ cử nhân.
          Với lòng nhân nghĩa, Ngài thường làm điều thiện, giúp người nghèo khó, vì vậy ai ai cũng yêu mến. Tuy nhiên tính Ngài cương trực, không ưa kẻ tham nhũng nịnh trên doạ dưới vì vậy cũng có kẻ thù oán. Năm Canh Tỵ (1720), bọn có tà tâm kiện Ngài trước công đường nhưng trước tấm lòng cương trực, chứng cứ rõ ràng, Ngài vẫn là người vô tội.
          Đến năm giáp tuất (1754) đồng đảng bọn gian tâm lại tụ tập kiện Ngài trước quan Thái phỏng Tỉnh. Do không xét rõ đầu đuôi, Thái phỏng Tỉnh đã ra lệnh niêm phong tài sản nhà Ngài, bọn tiểu nhân đắc chí đã lợi dụng dịp này cướp phá gia sản Ngài, Ngài phải trẩy kinh khiếu nại. Triều đình đã giao cho Tỉnh tra xét lại. Bị đuối lý bọn gian tà đã tụ tập trên 5000 người vây chặt nhà ngài trong 7 ngày, gia sản Ngài gồm 50 căn nhà, của cải vạn quan đã bị chúng cướp đốt sạch. Con trưởng của Ngài là Nguyễn Cảnh Quý và gia quyến phải di chuyển lên vùng Nhân Bồi (nay là xã Bồi Sơn huyện Đô Lương) và tiếp tục khiếu kiện lên Kinh. Triều đình cử quan Trấn thủ về điều tra, bắt bọn chúng phải bồi hoàn, gia sản của Ngài lại được phục hồi như cũ.
          Trải qua nhiều phen nguy biến, chán chường cho cảnh lòng người đạm bạc, ngài than rằng: “Đời ta còn được như ngày nay là nhờ tổ tiên tích lũy công đức, mãi đến giờ mà ta chưa nối được chí ông cha, chưa làm được gì mà tổ tiên để lại, cứ bo bo lập nghiệp trong thôn xóm, gây oán thù với bọn tiểu tâm. Đại trượng phu há vậy sao?”.
Do vậy Ngài rời quê ra kinh đô làm việc, được bổ nhiệm vào Trung dũng quân doanh tại Ninh Trấn. Nhờ có công lao nên được Triều đình nhà Lê ban tặng Gia hành đại phu Lạng sơn. Hưng hoá đẳng xứ tán trị, Thừa chánh sứ ty, Thừa chánh sứ Thuận Trung Hầu.
          Ngài mất ngày 14 tháng 9 năm Ất Hợi (1755) tại công đường Nhuệ tả ở Kinh đô, hưởng thọ 63 tuổi.
Thi hài của Ngài được đưa về quê, mai táng tại Bàu Giày, xứ Mô Bá, xã Phong Sơn (Nay là xã Thanh Phong, Thanh Chương).
          Ngài có tám người vợ.
Chánh thất là Đặng Thị Hoạt, người ở Văn Trung lỗ, sinh năm 1702.
Mất ngày 20 tháng 7 năm Tân Mão (1771) táng cạnh mộ chồng.
          Các Á thất lần lượt là:
Bà thứ hai là người họ Nguyễn, người làng Vĩnh Sơn (xã Liên Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An ngày nay)
Bà thứ ba là người họ Lương ở làng Nhân Bồi (Bồi Sơn, Đô Lương)
Bà thứ tư người làng Phúc Đồng (xã Liên Sơn, huyện Đô Lương),
Bà thứ năm người làng Tràng Thịnh (xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương),
Bà thứ sáu bà người làng Cẩm Ngọc (xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương),
Bà thứ bảy người làng Bạch Ngọc (xã Ngọc Sơn, huyện Đô Lương) và
Bà thứ tám họ Đặng người ở huyện Chương đức.
          Ngài có 9 con trai và 7 con gái:
          Con trai trưởng tên Nguyễn Cảnh Ứng, tự Quý, tức là Thiêm sự viện thiếu Thiêm sự.
          Con trai thứ hai tên là Nguyễn Cảnh Tề, tự Tân, tức là Hiệu uý Thần vụ Bá.
          Con trai thứ ba tên là Nguyễn Cảnh Dinh, tự Viêm tức là Ích quang Điện tử thừa. Mẹ ngài ở làng Vĩnh Sơn, con cháu nay ở Liên Sơn, Đô Lương.
          Con trai thứ tư tên là Nguyễn Cảnh Quy, tự Lam tức là Đô uý Yển đức Hầu.
          Con trai thứ năm tên là Nguyễn Cảnh Miên, mẹ Ngài ở Phúc Đồng, xã Liên Sơn, huyện Đô Lương.
          Con trai thứ sáu tên là Nguyễn Cảnh Trác, tự Hoành tức là Thái khang huyện, Huyện thừa.
          Con trai thứ bảy tên là Nguyễn Cảnh Thụ, mẹ Ngài ở làng Tràng Thịnh (Xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương).
          Con trai thứ tám tên là Nguyễn Cảnh Đặng mẹ Ngài người họ Đặng người ở huyện Chương Đức.
          Con trai thứ chín tên là Nguyễn Cảnh Đô cũng con bà họ Đặng ở huyện Chương Đức.
          Bảy người con gái là:
Người con gái thứ nhất tên là: Nguyễn Thị Ngọc Dương,
Người con gái thứ hai tên là: Nguyễn Thị Ngọc Vinh,
Người con gái thứ ba tên là: Nguyễn Thị Ngọc Quyên,
Người con gái thứ tư tên là: Nguyễn Thị Ngọc Huê,
Người con gái thứ năm tên là: Nguyễn Thị Ngọc Chinh,
Người con gái th sáu tên là: Nguyễn Thị Ngọc Duyên,
Người con gái thứ bảy tên là: Nguyễn Thị Ngọc Kiến.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét