Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

NGÀY NÀY NĂM ẤY


Cuộc hội ngộ tại công viên Tao Đàn ngày này năm ấy.
Từ trái sang: Bá Ba (đã mất). Mình (Cảnh Vinh). Hoàng Đồng và Thanh.



     Tối hôm qua anh Tường gọi điện cho mình, câu đầu tiên anh hỏi là: Chú đang làm gì? Có nhớ ngày này mấy mươi năm về trước? Mình hiểu anh đang muốn chia sẻ tâm trạng của một người lính đã may mắn đi qua chiến tranh.

     Quên sao được những ngày này năm ấy, nơi được mệnh danh là “Cánh cửa thép Xuân Lộc”, bởi đi qua được yết hầu này, coi như cánh cửa vào Sài gòn đã được mở tung. Nói như vậy để biết rằng, sự khốc liệt của chiến tranh, sự giành giật thắng thua, mất còn ở cửa tử này là câu chuyện dài, không diễn đạt được trong một vài trang viết.

     Mình nhớ như in từng vạt rừng nắng cháy giữa mùa khô, những  lô cao su  bạt ngàn của xứ sở Miền Đông đất đỏ, nơi giấu cả mấy sư đoàn lính chúng tôi khi bao vây, tấn công Xuân Lộc. Nhớ những loạt bom dù cứ chạm cành cao su là nổ, những trận pháo giàn cấp tập từ Núi Thị, Biên Hòa, Trảng Bom… mà phần tử bắn có lẽ đã được tính toán từ lâu.

     Nhưng có lẽ điều mình nhớ nhất, là những gương mặt đồng đội thân quen. Những người con trai mười tám đôi mươi trẻ trung, trong sáng đến tinh khôi. Gấp bút nghiêm, rời tay cày tay cuốc, ra đi từ những miền quê bên bờ sông Lam, sông Ngàn Trươi, Ngàn Phố. Chả vậy mà sau này khi về làm quân quản ở Sài gòn, trên ngực áo chúng tôi được mang một cái tên rất thật, rất quê-"Sông Lam".  

     Hôm nọ đọc cuốn sách “Những trận đánh trước cửa ngõ Sài Gòn” mà anh Tường gửi tới, những tên đất, tên người, thấy gần như vừa mới hôm qua, nhưng cũng có cảm giác thấy xa vời vợi. Đọc xong mình cứ trăn trở một điều: Không biết sau hai cuộc chiến (Xuân bảy lăm và biên giới Tây Nam) đồng đội tôi bây giờ ai còn, ai mất? Người trở về thì cuộc sống mưu sinh, cơm áo thế nào?

     Giá như ngày này sang năm Đoàn Sông Lam có cuộc gặp mặt giữa đất Sài Gòn, nơi dinh Độc Lập. Giá như đồng đội tôi tất cả trở về để "sư đoàn tôi thành mấy sư đoàn" như vần thơ ai đẫ nói. Giá như ai cũng có cuộc sống tạm đủ cơm gạo áo tiền, để có thể mua vé tàu vé xe trở về thành phố. Giá như bao điều không thể trở thành có thể. Để chúng tôi tìm nhau, những người con bên bờ Sông Lam, sông Ngàn Trươi, Ngàn Phố năm nào. 
     Vâng, có lẽ ngần ấy thời gian đủ rồi đừng nhiều hơn nữa, nếu dài hơn thì muộn quá người ơi!




































Anh Từ (người đứng) đã hi sinh trong cuộc chiến Biên giới Tây Nam
Người ngồi là Hoàng Văn Trần, Đại đội hỏa lực ĐKZ

   
 Hoàng Văn Trần hôm nay
 (Ảnh chụp cách đây 10 năm)

Thương binh Nguyễn Văn Hà, người mệnh danh "Có cặp má hồng nhan" năm nào.
(Ảnh chụp vào tháng 4 năm 2013)
.

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

TỪ ĐIỂN QUÊ CHOA

     

    Hôm nay vào Blog nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, đọc bài này gặp nhiều từ của người dân Xứ nghệ mà sau mấy mươi năm không quen dùng thấy vừa lạ vừa quen. Xin giới thiệu để mọi người cùng thưởng thức "đặc sản" có một không hai của "Quê choa", nhất là những người con xứ Nghệ xa quê.



Con trâu thì gọi “con tru”
Con dâu thì gọi “con du” trong nhà
“Mấn” là “váy”, “ngái” là “xa”
“Đi mô?” để hỏi ai là “đi đâu? ”
“Nác su” ý nói “nước sâu”
“Trấy bù” để gọi “quả bầu” đấy nha
“Gác bếp” thì gọi là “tra”
“Lông cơn” thực chất đó là “trồng cây”
“Ra sân” thì nói “ra cươi”
“Đi nhởi” ý nói “đi chơi” ấy mà
“Chúng tao” thì nói là “choa”
“Các bạn”, thân mật gọi là “bọn bay”
“Tê” là “kia”, “ni” là “này”
“Mi” “mần” ý nói là “mày” “làm” thôi
“Chộ” là “thấy”, “nhác” là “lười”
“Mắm tôm” cứ gọi “ruốc bôi” đúng liền
“Đọi” là “bát”, ”nôốc” là “thuyền”
“Khủy chân” đích thị có tên “lặc lè”
“Đàng” là “đường”, “đấy” là “tè”
“Thế thôi” thì nói “rứa hè” là xong
“Rừng” là “rú”,“rào” là “sông”
“Ngá khu” tức thị “ngứa mông” thật rồi
“Mơ” là “mớ”, “thúi” là “hôi”
“Nỏ nhởi” ý nói “không chơi” đó mà
“Tê” là “kia, “tề” là “kìa”
“Cái môi” tên gọi “cái thìa” đó em
“Đánh nhau” – “đập chắc” nhớ liền
“Ra răng” là muốn hỏi em “thế nào”
“Ả” là “chị”, “tau” là “tao”
“Rứa” là “thế”, “răng” là “sao” đó mà
“Bổ” là “ngã”, “mả” là “mồ”
“Lọi cẳng”để nói đó là “duỗi chân”
Vải “đen” ắt hẳn vải “thâm”
”Trụt quỳn” ý nói “tụt quần” thế thôi
“Dốc” là “trôộc”, “đôộng” là “đồi”
“Mui” là để chỉ cái “môi” trước mồm
“Đầu” là “trôốc”, “hun” là “hôn”
“Ló” chưa hết là “Lúa” còn đấy em
“Ngượng ” là “rầy” “thích” là “sèm”
Ai hỏi đến “lả” thì châm “lửa” liền
“Nỏ” là “không” nhé đừng quên
“Lá trù” chính xác là tên “lá trầu”
“Mắc” là “bận”, “mô” là “đâu”
“Ăn nể” , “ăn vã” như nhau cả mà
Có người gọi “bọ” là “cha”
“Nương” là “vườn”, “rẫy” gọi là “nương” thôi
“Bù rợ” “bí đỏ” đúng rồi
“Nước chè” quê bạn, quê tôi “nác chè”
“Nướng” là phải “náng” đó nghe
Gọi mang lọ “mói” thì bê “muối” liền
Trốc cúi” là “đầu gối” chân
Nói “đài” múc nước phải cầm “gầu” ngay
“Chủi” là cái “chổi” đây này
Nói “rờ” thì cứ đưa tay mà “sờ”
“Lúc này” tạm nói là “dừ”
“Luộc kỹ gốc” nhé, “Loọc nhừ côộc” nha,
“Con ga” để chỉ “con gà”
“Con bê” choa nói đó là “con me”
“Con suối” cứ gọi là “khe”
”Châu chấu” ngoài đó, ở quê “cào cào”
“Hồ” nước được gọi là “bàu”
“Cá quả” cứ gọi “cá tràu” không sai
“Con người” thì nói “Con ngài”
”Cù cu” tên gọi của loài “bồ câu”
“tối” nói “túi”, “túi” nói “bâu”
“Con sâu” có chỗ gọi “trâu” thật mà
“Hổ bắt” thì nói “khái tha”
“Muỗi”, “giòi” thì gọi đó là “mọi”, “troi”
“Con ruồi” thì nói “Con ròi”
Bắt “tôi” “Nhúng” đít thì “tui” “trụng” quần
“Con giun” phải nói “Con trùn”
“Với chắc” có nghĩa là cùng “với nhau”
“Lộ mô” có nghĩa “chỗ nào”
Nói “vo trôốc” là “gội đầu” đó em
“Gạo” thì gọi “gấu” đừng quên
Ai nói đến “trự” nhớ liền “chữ” ngay
”Chạc” là để chỉ cái “dây”
Nói đi “đâm” gạo hiểu ngay “giã” rồi
Cả anh, em mẹ tới chơi
Đều chào là “cụ” thế thôi em ờ
“Sạu” thì phải hiểu là “ngô”
”O” là bác gái và “cô” đó mà
“Mẹ chồng” vẫn gọi “mụ gia”
“Ràn tru” phải hiểu đó là “chuồng trâu”
“Ròi bu” ý nói “ruồi bâu”
Hỏi nơi “rửa bát” là đâu “lộ chồ”
Gọi “vợ” là “gấy”nhớ cho
Nói “Nhôông” ắt hẳn chính là “chồng” thôi
“Dao khoắm” là “rạ” đúng rồi
Bảo đi lấy “toóc” thì lôi “rạ” về
“Ruộng” là gọi “roọng” đó nghe
“Anh nha” cứ nói “eng hè” là xong
“Suôn” là “thẳng”, “ngoẹo” là “cong”
“Nỏ mần răng cả” là “không việc gì”
“Gõ đầu” là “trọi trốc” mi
“Kệ tau” ý nói làm gì “mặc tôi”
“Trúp vả” để chỉ cái “đùi”
“Ả nậy” – “chị lớn” biết rồi chứ em,
“Ngong” là “ nhìn”, “coi” là “xem”
“Mệ va” – “chị ấy” mong em chớ cười
“Lớn” thì nói “nậy” thế thôi
“Lõi” ngô, lõi mít nói “cồi” đừng lo
“Cây cọ” choa nói “cơn tro”
Gọi “tắn”, gọi “tít” “rắn” bò “rết” ra
“Mạo” là cái “mũ” đó nha
Trong đó từ “rạc” nghĩa là “xác xơ”
“Anh” là “eng”, “cô” là “O”
“Mun” trong bếp củi là “tro bếp” mà…
(Mời các bạn nối vần)

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

THẬP NIÊN SỰ LỄ

     Lễ hội họ Nguyễn Cảnh đã có từ trên 400 năm. Cứ 10 năm một lần vào năm “Giáp”- (năm dứng đầu của mỗi can) như 1944, 1994 vv… Họ Nguyễn Cảnh tổ chức lễ hội một lần. Chính vào ngày Rằm tháng Ba âm lịch. Lễ hội tổ chức trong ba ngày 14, 15 và 16. Còn có tên lễ Chay. Địa điểm tiến hành tại nhà thờ Ngài Thái phó Khuông tế trạch dân Đại Vương Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Hoan, ở xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Lễ hội đền thờ Nguyễn Cảnh Hoan được tổ chức với quy mô “Thập niên sự lễ“ theo cấp Nhà nước và đã được hiệp hội câu lạc bộ UNESCO Việt Nam công nhận là di sản Lịch sử – Văn hóa được bảo trợ lâu dài vì sự nghiệp bảo tồn và phát triển nền văn hóa bản sắc.
     Tất cả các Đại chi, Tiểu chi và mọi người trong họ đều về dự.Do chiến tranh. Có ba lần lễ 1954, 1964 và 1974 không có điều kiện tiến hành. Năm 1984 Hội đồng gia tộc Họ đã họp bàn quyết định phục hồi lại nghi lễ này nên lễ hội năm 1994 đã được tiến hành.
     Kỳ lễ hội năm 1944 tiến hành như sau:
Ngày lễ hội là ngày con cháu thờ phụng Tổ Tiên, là dịp con cháu ôn lại và ca ngợi truyền thống vẻ vang, oanh liệt của các bậc Tiền Liệt, là dịp giáo dục cho con cháu họ Nguyễn Cảnh truyền thống lâu đời của dòng họ mình là: TRUNG-HIẾU-NHÂN-NGHĨA, để mãi mãi gìn giữ và phát huy. Đây cũng là dịp con cháu trong các Đại Chi, Tiểu Chi, dù gần hay xa, dù trong nước hay ngoài hải ngoại, có dịp gặp nhau, thăm hỏi hàn huyên chuyện cũ, chuyện mới, chuyện vui cũng như chuyện buồn, chia sẻ cho nhau tình thân thương, đoàn kết gắn bó.
     Để tiến tới ngày lễ hội, có nhiều công việc phải chuẩn bị như:
Hội đồng Họ phân công nhau chuẩn bị nghi lễ, tu sửa nhà thờ, nắm và hệ thống lại thành tích và diễn biến hoạt động của con cháu.
     Các Đại Chi nô nức chuẩn bị lễ rước biểu tượng công tích của tổ tiên. Mỗi một vị tổ đã có nhiều công tích với nước, như quận công thì biểu tượng là con voi có đủ đai yên, cờ, lọng. Các vị khác là các quan chức trung cao của các triều đại hoặc các vị có học vị cao như: tú tài, cử nhân, tiến sỹ… có chức sắc trong bộ máy quản lý nhà nước như đứng đầu quận, huyện, tỉnh, thành phố, vụ, viện, bộ…(là quan văn), biểu tượng là một con ngựa trắng. Các vị là quan chức trung cao cấp như trung, thiếu tướng, đại tá, chỉ huy quân sự tỉnh, thành phố…thì biểu tượng là một con ngựa hồng. Voi, ngựa làm bằng giấy, kích thước như thật, mỗi biểu tượng được đặt trên xe gỗ 4 bánh để đẩy đi.
     Tại lễ hội năm 1944, số biểu tượng kể trên là 18 voi và trên 500 ngựa, chứng tỏ công tích Họ Nguyễn Cảnh thật to lớn.
     Phần chuẩn bị cho lễ hội cũng rất phong phú. Phía nam giới, chủ yếu là chuẩn bị thờ phúng. Phía nữ giới, chủ yếu chuẩn bị các điều kiện để dự thi những người phụ nữ, đại diện cho các Tiểu Chi có tài nội trợ giỏi. Những mâm dự thi có nhiều món, có mâm bày biện tới 12 lớp.
     Nghi lễ của các lễ hội nghiêm trang. Từng Tiểu Chi cúng lễ ở nhà thờ Tiểu Chi mình từ dưới lên. Lễ rước các biểu tượng là tập trung toàn Họ. Đám rước xuất phát từ nơi tập trung tại nhà thờ Họ, rước xuống đền Đức Hoàng tại xã Yên Sơn Có ý nghĩa trình báo với Thần Hoàng địa phương theo truyền thống “Phép nước, lệ làng” và rước về chùa làng Vịnh Sơn - Với ý nghĩa tôn thờ phật, theo truyền thống con người có “Tổ tiên, Trời, Phật”. Sau đó trở về nhà thờ Họ. Lễ tế rất long trọng, diễn ra đúng tảng sáng ngày rằm tháng Ba. Văn tế Tổ đươc tuyên đọc trong không khí trang nghiêm, ca ngợi công tích từng vị Tổ theo thứ tự qua các đời và thứ tự các Đại Chi. Lễ hội diễn ra rất tươi vui, rộn ràng với nội dung: Ngâm vịnh thi thơ, thi dọn cỗ bàn của nữ giới. Kết thúc hội, các biểu tượng công tích được hỏa thiêu, với ý thức dâng lên Tổ tiên những tấm lòng, quyết tâm làm sáng danh dòng họ Nguyễn Cảnh đời đời bất diệt.
     Đọc lại truyền thống lẫy lừng của dòng họ Nguyễn Cảnh qua những trang gia phổ, con cháu xiết bao tự hào! Mỗi một người đã là con cháu, dâu rể, thân hữu của dòng họ, tự thấy mình phấn đấu cho đời, tô điểm cho họ tộc ngày càng rạng danh muôn thuở. Là con nhỏ thì hiếu thảo lễ phép, chăm học hành. Là anh em họ hàng thì đùm bọc thương yêu. Là vợ hoặc chồng thì thuỷ chung son sắt. Là cha mẹ thì bù trì nuôi dạy con cái nên người. Với công việc thì luôn hoàn thành nhiệm vụ. Với nhân dân thì nhân nghĩa, bao dung. Với tổ quốc thì ghi nhớ hai chữ trung thành!
     Để biết thêm chi tiết của lễ hội năm nay (2014) Mời quý vị Click vào đường Link sau
 
(Nguồn tin: Gia phả dòng họ Nguyễn Cảnh)


Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

CU-ĐƠ ĐẶC SẢN QUÊ MÌNH



        Kẹo Cu Đơ chính hiệu
   Hôm nọ hai vợ chồng Huy Dũng, trong chuyến hành hương về phương Nam trước khi “Hạ cánh an toàn”, có ghé qua Nha Trang và biếu mình một món quà đặc sản quê nhà, đó là kẹo Cu Đơ. Kẹo được chế biến từ lạc nhân và mật mía, có thêm hương vị của gừng và đúc kẹp giữa hai lớp bánh tráng. Món này có thể thưởng thức quanh năm, nhưng về mùa đông nếu làm một miếng và một bát chè xanh thì coi như đủ năng lượng chống chọi với cái rét thấu xương của mùa đông phương Bắc.
Hồi nhỏ thỉnh thoảng mẹ mình vẫn làm cho cả nhà ăn, tuy nhiên để thật ngon thì không phải dễ. Trước hết nguyên liệu lạc nhân phải là thứ lạc được trồng trên vùng đất Nghệ Tĩnh, hạt to mẩy đều và rất bùi. Thứ Lạc mà một thời người ta nhắc nhau “Xin đừng dùng Lạc làm quà biếu nhau. Lạc là thép, Lạc là gang, Lạc sang nước bạn Lạc mang máy về” mà mình đã hơn một lần nhắc đến. Ngoài ra kỹ thuật rang lạc cũng như thắng mật sao cho tới độ để không non, không quá lửa lại là cả một vấn đề nghệ thuật, thuộc bí quyết gia truyền, không đơn giản chút nào đâu nhé.      
Lần đầu tiên mình nghe đến hai từ Cu Đơ là năm bảy mươi tư, khi đang huấn luyện tân binh ở Hương Sơn. Đích thực là món kẹo lạc quê mình rồi, nhưng sang Hà Tĩnh nghe mọi người gọi là Cu Đơ, ban đầu thấy hơi ngồ ngộ, hỏi ra thì được giải thích thế này. Chuyện kể rằng ngày xưa tại khu vực Cầu Phủ Hà Tĩnh, có một người làm món kẹo lạc ngon nổi tiếng tên là ông Cu Hai. Chả là theo tập quán ở miền Trung, nếu ai sinh con đầu lòng là trai thì có tên đệm gọi là “Cu”, còn nếu sinh con gái đầu lòng thì gọi là “Hoe”. Như vậy, nếu ở quê mình sẽ được bà con trong làng gọi là Cu Vinh, (giống nhà văn Nguyễn Quang Vinh có một Blog đặt tên là “Cu Vinh Khoai Lang”, bà con ai rỗi thì vào xem nhé, hay ra phết đấy). Trở lại chuyện ông Cu Hai, nghe nói nhà lại ở gần trường học, hồi bấy giờ đang thời kỳ Pháp thuộc, nên học trò học theo tiếng Pháp, mà trong tiếng Pháp số Hai gọi là “Đơ”, vì vậy món kẹo ông Cu Hai nói theo kiểu tiếng bồi, nửa tây nửa ta là kẹo ông Cu Đơ, cứ rứa lâu dần thành quen.
Không ngờ sau này nó trở thành thương hiệu đặc sản của quê mình. Chả vậy mà trước đây, mỗi lần tàu quân vận về tới ga Vinh, nghe mấy em bán hàng rong chào mời “Cu Đơ không chú?”. Mấy cậu lính trẻ từ miền Nam ra, nhanh nhảu nghịch ngợm trả lời “Đang đơ đây”. Hi hi…
Kẹo Cu Đơ bây giờ được đóng gói trông bắt mắt hơn, bên ngoài bao bì còn có mấy bài thơ, đọc thấy vui vui, xin giới thiệu cùng bà con nhé:
 
NHỚ CU XƯA
Cu xưa bay đến phố Nài
Bay từ viễn khách bay dài, bay xa
Bay từ cầu Phủ đến Na
Bay sang Bến Thủy, bay qua Ngang Đèo
Cũng nhờ mấy nhịp Cầu Treo
Cu đi xóa đói giảm nghèo thật nhanh
Cu xưa đậu nóc nhà tranh
Bay sang nhà ngói yên lành ấm no
Ngày xưa Cu mất tự do
“Ngày nay Cu đến cho dân làm giàu”
(Câu này mình xin phép tác giả sửa lại, khỏi mang màu sắc chính trị chính em)
Bà con làng xóm bảo nhau
Cho Cu lên chật chuyến tàu Bắc Nam
Thả Cu bay khắp xóm làng
Bay cùng tổ quốc bay sang nước ngoài
Cu đi bắc nhịp cầu dài
Vui cùng năm tháng đêm hoài nhớ Cu.

CU CHẬM
Cu chậm nên chi khách phải chờ
Có đâu mặn nhạt chủ thờ ơ
Sân sau chÍn ả trông mê mết
Ngõ trước mười chàng đứng ngẩn ngơ
Một mảnh trăng tròn tình mất lạc
Đôi vùng sao khuyết nghĩa Cu Đơ
Thân tình nhắn nhủ cùng ai đó
Bùi ngọt chờ lâu cũng nhạt mờ.